Blog

Phân tích bài thơ "Đồng chí" của nhà thơ Chính Hữu

Trang chủ Blog Phân tích bài thơ "Đồng chí" của nhà thơ Chính Hữu

Chính Hữu từ lâu đã là một nhà thơ thu hút độc giả với những tác phẩm về người lính áo vải. Có lẽ trong chúng ta ai cũng biết bản thân ông cũng từng là một anh lính nên càng làm nên những vần thơ sống động nhất về người lính và cách mạng. Và chắc hẳn “Đồng chí” là tác phẩm không còn quá xa lạ với bất kỳ ai đã một lần biết về ông. Đúng vậy, Đồng chí - một tác phẩm thơ ca khiến cho người đọc một cái nhìn rõ nhất về tình anh em đồng đội nơi chiến trường là như thế nào. Để hiểu rõ hơn về tác phẩm, xin mời bạn đọc theo dõi bài phân tích dưới đây.

Phân tích bài thơ đồng chí

Dân tộc ta từ lâu được biết đến với tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm: từ giặc Trung Quốc cho đến thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nổi bật lên đấy là hình ảnh những con người xa lạ, chưa từng biết nhau nhưng dòng máu Việt Nam đang chảy trong người cùng tình yêu Tổ quốc đã làm gắn kết họ lại với nhau. Chính sự gắn kết ấy đã tạo nên sức mạnh giúp dân tộc ta giành lại hoà bình, và đã được nhà thơ Chính Hữu gọi là “ tình đồng chí”. Đồng chí đã trở thành niềm cảm hứng cho Chính Hữu tạo nên một tác phẩm cùng tên.

Phải chăng một phần đã từng là người lính, đã trải qua năm tháng nơi chiến trường nên Chính Hữu mới có thể tạo nên những vần thơ mộc mạc, nhẹ nhàng nhưng thấm đẫm  tình cảm của người lính một cách sâu sắc đến như vậy.

Tác phẩm ra đời trong thời kỳ dân tộc ta đang đấu tranh giành độc lập từ bọn thực dân Pháp. Mở đầu bài thơ, tác giả giúp người đọc hiểu rõ hơn về hoàn cảnh xuất thân của người lính lúc bấy giờ.

“ Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Đúng vậy, nông nghiệp chính là truyền thống của đất nước ta kể cả trong quá khứ lẫn hiện tại, họ chính là những anh lính áo vải vốn xuất thân từ những người nông dân chất phác. Ấy thế nhưng, khi đất nước hoà bình bỗng bị bọn thực dân xâm lược, áp bức, họ lại gặp nhau vì có cùng chí hướng. Họ từ hai con người xa lạ xuất thân từ những vùng quê nghèo khó của miền Trung “nước mặn đồng chua”, “ đất cày lên sỏi đá”. Vì tiếng gọi của tổ quốc họ đành gác lại công việc đồng áng còn đang dang dở, tạm biệt người thân, bạn bè, những bờ dâu, bãi mía để ra chiến trường, Hai câu thơ tưởng chừng như đối nhau lại đang song hành cùng nhau, làm bật lên tình cảnh của người lính. Tuy hoàn cảnh, cuộc sống của các anh khó khăn nhưng nó chưa bao giờ là lý do khiến các anh chùn bước, ngày cả khi đất nước đang bị xâm lăng:

“Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

 “Anh” và “tôi”, dường như là cách xưng hô đã quá đỗi quen thuộc của con người Việt Nam, họ gọi nhau khi mới lần đầu quen biết nhưng lại mang đến cảm giác vô cùng gần gũi. Chính cái cảm giác quen thuộc ấy mà mạch cảm xúc của bài thơ lại dễ đi vào lòng mỗi người đọc như chúng ta. Đúng vậy, “anh” và “ tôi” là hai con người xa lạ, nhưng lại được gặp nhau hôm nay vì cách mạng, vì muốn cống hiến cho tổ quốc. Và chính khát vọng ấy, niềm tin ấy, họ đã trở thành những người anh em đồng đội kề vai sát cánh bên nhau chiến đấu trên chiến trường đầy bom đạn. Lời thơ trở nên nhanh hơn, nhịp thơ cũng bắt đầu dồn dập và sự gần gũi của “anh” và “ tôi” cũng dần khăng khít hơn.

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Đồng chí”

Hai câu thơ trước không những mang ý nghĩa tả thực mà còn mang ý nghĩa tượng trưng. “Súng bên súng” dùng để chỉ sự chung về nhiệm vụ, hành động còn “ đầu sát bên đầu” là chỉ sự chung về chí hướng, lý tưởng chiến đấu”. Hình ảnh “ súng bên súng, đầu sát bên đầu” là tư thế mà mỗi người lính phải luôn sẵn sàng trong những đêm phục kích. Trong những lúc khó khăn, nguy hiểm như vậy, họ vẫn hiên ngang, anh dũng vì biết rằng sát cánh bên mình vẫn còn những người mà họ xem là anh em, đồng đội. Tác giả đã sử dụng các từ ngữ có tính chất gợi sự chia sẻ, sát cánh ý hợp tâm giao cùng nhau của những người lính. Thêm một hình ảnh đẹp hiện lên chính là “ đêm rét chung chăn” với nhiều ý nghĩa. Hình ảnh ấy cho thấy được sự thiếu thốn, khó khăn mà người lính phải chịu nơi chiến trường vào những đêm đông giá rét. Có lẽ nếu chưa từng trải qua cuộc sống của một người lính thật sự thì người đọc chúng ta sẽ chẳng thể nào thấu hết nỗi cực khổ mà người lính phải chịu đựng. Trong những đêm rét buốt người ấy, tình đồng chí lại hiện lên, họ chia sẻ cho nhau tấm chăn với một trái tim nồng ấm. Một chút tình cảm dường như cũng góp phần làm xoa dịu đi cái rét nơi chiến trường miền núi phía bắc. Có lẽ trong những lúc khó khăn như vậy thì chúng ta mới cảm nhận được tình cảm của những người đồng đội dành cho nhau, và nó góp một phần vun đắp cho tình cảm ấy ngày thắm thiết, sâu đậm. Để rồi các anh lính không chỉ còn coi nhau như những người bạn bình thường mà đã nâng lên thành tri kỷ, và gọi nhau là “ đồng chí”. 

Hai tiếng “đồng chí” vang lên ở cuối đoạn là để khép lại nhưng về ý nghĩa lại là mở ra sự hình thành của tình đồng chí. Nó đã góp phần tạo nên điểm nhấn cho đoạn thơ, khiến người đọc  không ngừng suy nghĩ về ý nghĩa mà tác giả muốn gọi nhắc. Đấy chính là tiếng gọi thiêng liêng và vô cùng chân thành, xuất phát từ những con người có cùng chí hướng để gọi những người anh em, đồng đội của mình. Tình đồng chí ở đây với một mức độ còn cao hơn cả tình bạn bè, nó là thứ tình cảm đặc biệt mà người lính đã kết tinh lại, giúp họ vững vàng vượt qua những năm tháng khó khăn ở chiến trường. Khi hai tiếng “đồng chí” vang lên cũng chính là lúc cảm xúc dâng trào nhất, sự cảm động đến nao lòng và làm bừng sáng lên thông điệp mà tác giả Chính Hữu muốn gửi gắm. 

Có lẽ khi mà những con người ấy bắt đầu cảm nhận được nỗi lòng của nhau, thì họ cũng dần mở lòng chia sẻ cho nhau về những trăn trở về quê nhà. Cách kể ấy vẫn theo mạch cảm xúc chân thành, ngôn từ diễn đạt giản dị, mộc mạc gần gũi tiếp tục được tác giả thể hiện qua các dòng thơ.

“ Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió e lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

Với giọng thơ thủ thỉ, tâm sự quen thuộc qua ba dòng thơ trên ta có thể thấy được rằng những người lính vốn là những người nông dân gắn với đồng ruộng, chân lấm tay bùn. Khi biết đất nước lâm nguy, họ sẵn sàng gác lại tất cả công việc trước mắt vì họ biết ngay khoảnh khắc này tổ quốc cần họ hơn. Để rồi, các anh phải gửi ruộng nương lại cho bạn thân cày, “ căn nhà không” đang bị hư hỏng cần sửa chữa các anh cũng đành bỏ lại với thái độ dứt khoát càng thể hiện sự quyết tâm ra đi của người lính. Tình yêu quê hương thật to lớn ấy đành chôn giấu vào trong tim, và tình yêu ấy đã nâng lên thành tình yêu tổ quốc. Thật vậy, có lẽ trong cái thời khắc mà đất nước gọi tên ta thì chắc chắn một điều mỗi người dân Việt Nam chúng ta mãi cũng sẽ bỏ lại tất cả để đứng lên chiến đấu chống lại bọn ngoại xâm. Trong khi đang làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, lòng người lính vẫn không thôi hướng về quê hương. Đặc biệt là việc sử dụng độc đáo hình ảnh hoán dụ “ giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” đã làm bật lên nỗi nhớ hai chiều: một là quê hương anh, nơi có gia đình, anh em, làng xóm đang ngày đêm mong nhớ chờ đợi các anh trở về, hai là các anh những người lính xa quê đang từng ngày mong ngóng được trở về thăm quê. Nỗi nhớ ấy cứ tăng dần lên theo năm tháng càng tiếp thêm sức mạnh để các anh có thể sớm hoàn thành nhiệm vụ và trở về bình an. 

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh 

Rét run người vầng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

Qua từng câu chữ trong đoạn thơ vừa rồi, chúng ta có thể thấy được tình đồng chí không chỉ dừng lại ở việc thấu hiểu tâm tư hoàn cảnh của nhau mà còn  chia sẻ với nhau những gian lao, thiếu thốn nơi chiến trường bom đạn ác liệt. Đoạn thơ sử dụng bút pháp tả thực, hình ảnh sóng đôi đối xứng với “anh”- “ tôi” và “ áo anh” – “ quần tôi” đã tạo nên sự gắn kết của những người lính trong mọi hoàn cảnh. Có lẽ điều đó càng giúp họ trở nên gần gũi với nhau hơn. Trong cái không khí lạnh buốt người, anh với tôi vẫn kề vai nhau trải qua cơn sốt rét rừng, những thiếu thốn về vật chất: áo rách vai, quần vài mảnh vá. Ấy thế mà các anh vẫn mang một tâm hồn đầy sự lạc quan “ miệng cười buốt giá”, hình ảnh nụ cười bừng lên giữa trời đông hoà vào kho gian để làm vơi đi một phần khắc nghiệt nơi chiến trường. Để rồi các anh nắm lấy đôi bàn tay lạnh giá của nhau, động viên nhau dù hoàn cảnh lúc ấy khó khăn đến nhường nào. Và trong mỗi người lính, họ vẫn tràn ngập sự lạc quan, và một niềm tin vào sự tất thắng của cách mạng. Câu thơ tuy giản dị nhưng có một sức mạnh làm lay động lòng người đọc đến lạ kỳ. 

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Từ trong sự giản dị mộc mạc của người lính áo vải đã làm bừng sáng lên vẻ đẹp của lý tưởng, quyết tâm hy sinh thân mình để giành lại hoà bình cho dân tộc. Dù hiểm nguy có như thế nào đi chăng nữa thì tâm lý sẵn sàng chiến đấu vẫn luôn hiện rõ trên nét mặt của người lính. Dù là rừng hoang là sương muối thì các anh vẫn không cảm thấy cô đơn, gian khổ vì biết rằng ở bên vẫn có các đồng đội và cây súng. Trong cái không gian yên tĩnh của rừng hoang, một người bạn đồng hành không thể thiếu khi đêm về là ánh trăng, nó lại xuất hiện một cách chơi vơi nơi đầu súng. Một câu thơ khép lại mang tính nghệ thuật độc đáo của tác giả, thể hiện sự cảm nhận đầy tinh tế. Câu thơ gợi lên một cảm giác về không gian bao la rộng lớn nhưng cũng thật huyền bí và khó tả. Súng và trăng là hai hình ảnh mang ý nghĩa đối nghịch nhau. Khi một bên súng tượng trưng cho chiến tranh và sự chết chóc nhưng lại được đặt đặt trong mối quan hệ với ánh trăng. Trăng hàm chứa sự hoà bình, ước mơ về một cuộc sống tươi đẹp. Qua đó muốn nói lên rằng súng lúc này đã trở thành vật hàm chứa lý tưởng tươi đẹp, đó là tinh thần chiến đấu với ước muốn về một cuộc sống hoà bình độc lập của dân tộc. Tuy đối lập giữa vẻ đẹp lãng mạn của trăng và hiện thực của súng nhưng qua vần thơ của tác giả, hai hình ảnh này lại làm nổi bật lên vẻ đẹp của nhau trong sự hoàn mỹ nhất. Qua đó chúng ta có thể thấy được khát vọng của tác giả: để ánh trăng kia được sáng mãi thì trong hoàn cảnh lúc này mọi người cần phải đứng lên cầm súng và chiến đấu. 

Những vần thơ từ tác phẩm “ Đồng chí” mà Chính Hữu mang đến cho người đọc như một lời tâm tư, thủ thỉ nhẹ nhàng nhưng đã làm cho ta cảm nhận được rõ nét nhất vẻ đẹp của người lính chống Pháp. Nhưng có lẽ tình đồng chí mới chính là linh hồn của bài thơ, tình anh em đồng đội, cái mà làm tác giả ghi nhớ sâu sắc nhất trong những năm tháng chiến đấu gian khổ nơi chiến trường. Bởi sự khéo léo trong cách sử dụng ngôn ngữ vô cùng giản dị, mộc mạc, gần gũi mà bài thơ dễ dàng đi vào lòng người đọc đến vậy. Vẻ đẹp về tình đồng chí ấy đôi lúc bừng lên giữa đoạn văn bởi những hình ảnh tượng trưng, câu văn sóng đôi và ngòi bút hiện thực lãng mạn. Người lính áo vải, tình đồng ấy sẽ sáng mãi trong lòng tác giả, và cũng là hình ảnh mà mỗi chúng ta cần trân quý khi được số trong hoà bình như ngày hôm nay.

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của mình.

>> Tham khảo thêm: